Kinh điển Đại Thừa (Mahayana, Bắc Tông). Kinh điển Đại Thừa xuất hiện về sau nầy, vào khoảng đầu Công nguyên (CN) -- 300 đến 700 năm sau ngày Phật nhập Đại Niết bàn, không rõ nguồn gốc xuất xứ với nhiều giả thuyết khác nhau, không biết do ai kết tập vào thời kỳ nào, ban đầu là vài bộ kinh ngắn rồi dần dà xuất hiện các bộ lớn hơn với văn phong không đồng nhất, và ngày nay cũng không còn nguyên bản trọn vẹn. Một số đã được dịch sang chữ Hán và chữ Tây Tạng qua nhiều thời kỳ khác nhau bởi nhiều dịch giả thuộc những tông phái khác nhau, và được lưu truyền đến ngày nay. Một số kinh điển Hán tự khác thì lại không có nguồn gốc rõ ràng, mặc dù lấy danh là lời Phật dạy nhưng có lẽ đã được trước tác tại Trung Hoa trong thời kỳ Phật giáo mới được phát triển tại đó. Kinh điển Đại Thừa là một tập hợp các bài giảng của Đức Phật, các luận giải của tăng sĩ, và ngữ lục của các tổ sư. Ngoài tạng Luật -- trên cơ bản rất tương tự với tạng Luật Pali, còn có tạng Kinh gồm có các bộ A Hàm -- dịch thuật từ nhiều nguồn khác nhau -- và các kinh điển mới, và tạng Luận gồm các tác phẩm chú giải và luận thuyết của các vị tăng sĩ Đại thừa về sau nầy. Có thể nói tính đa dạng và phong phú của kinh điển Đại thừa là kết quả của một sự dung nạp hỗn độn, không có hệ thống và tiêu chuẩn rõ ràng, các tài liệu về Phật giáo -- hoặc có vẻ mang tính cách Phật giáo nhưng lại pha trộn các giáo thuyết khác -- xuất hiện rãi rác trong các thế kỷ đầu Công nguyên trong thời kỳ hình thành tông phái nầy. Dưới đây là liệt kê sơ lược danh sách kinh điển Phật Giáo Đại Thừa [a,b]: 1. Trước thời Long Thọ (Nagarjuna, sơ tổ của Đại thừa Phật giáo, thế kỷ III CN): Kinh Đại phẩm Bát Nhã Kinh Tiểu phẩm Bát Nhã Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Hoa Nghiêm Kinh Đại Vô Lượng Thọ Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh Duy Ma Cật Trước tác của Ngài Mã Minh (Asvaghosa, đầu Công nguyên): Phật sở hạnh tán Đại Trang Nghiêm luận Thập Bất thiện nghiệp đạo Lục thú luân hồi Sự sư pháp Ngũ thập tụng Ni Kiền Tử vấn vô ngã nghĩa Đại tôn địa huyền văn bản luận Đại Thừa khởi tín luận 2. Thời Long Thọ (Nagarjuna), Đề Bà (Deva), Bạt Đà La (Bhadra): 2.1 Ngài Long Thọ trước tác nhiều bộ luận, nhưng dịch sang Hán gồm: Trung quán luận Bồ đề tâm ly tướng luận Thập nhị môn luận Hồi tránh luận Đại trí độ luận Phương tiện tâm luận Thập trụ Tỳ Bà Sa luận Khuyến phát chư vương yếu kệ Thập bát Không luận Tán pháp giới tụng Đại thừa phá hữu luận Quảng đại phát nguyện tụng Bồ đề tư lương luận 2.2 Ngài Đề Bà trước tác: Bách luận Bách tự luận Quảng bách luận 2.3 Ngài Bạt Đà La trước tác: Chú thích Trung luận 3. Sau thời Long Thọ: Kinh Thắng Man Kinh Giải Thâm Mật Kinh Đại Bát Niết Bàn (Đại thừa Niết Bàn) Kinh Lăng Già 4. Thời Vô Trước (Asanga, thế kỷ IV-V CN): 4.1 Trước tác của Ngài Di Lặc (Maitreya): Du Già Sư Địa luận Đại Thừa Trang nghiêm kinh luận Thập địa kinh luận Trung biên phân biệt luận 4.2 Trước tác của Ngài Vô Trước (Asanga): Hiển dương Thánh giáo luận Kim Cang Bát nhã Ba la mật đa kinh luận Nhiếp Đại thừa luận Thuận Trung luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma tạp luận 4.3 Trước tác của Ngài Thế Thân (Vasubandhu) thì rất nhiều, nhưng các bộ sau đây đã dịch sang Hán: A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận Nhiếp Đại Thừa luận thích A Tỳ Đạt Ma Câu Xá bản tụng Thập địa kinh luận Duy thức Tam thập tụng Diệu Pháp Liên Hoa kinh Ưu Bà Đề Xá Duy thức Nhị thập tụng Vô Lượng Thọ kinh Ưu Bà Đề Xá Đại Thừa Bách pháp Minh môn luận Chuyển Pháp luân Ưu Bà Đề Xá Đại Thừa Ngũ uẩn luận Kim Cương Bái nhã Ba la mật kinh luận Phật tính luận Lục môn giáo thọ tập định luận.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/3/2021.

Comments

Popular posts from this blog